Không ồn ào và nổi tiếng như phở hay bánh mì, nhưng bánh canh lại âm thầm trở thành thức quà bình dị mang đậm hương vị của một miền quê Việt Nam chân chất.
Không cầu kỳ trong cách chế biến mà nguyên liệu thì dễ tìm lại cho ra thành phẩm là những tô bánh canh ngọt từ nước đến bánh và thịt cá hòa lẫn, ôi sao cái món ăn được chế biến quá đơn giản, quá mộc mạc quá gần với đời thường này lại có thể gây thương nhớ khi người ta xa nhà xa quê đến vậy.
Bánh canh – món ngon đa dạng nhất menu ẩm thực Việt
Phở nổi tiếng thật, bánh mì cũng vậy nhưng rõ ràng hai món ăn nổi tiếng này của Việt Nam chúng ta lại ít đang dạng về hình thức lẫn cách chế biến. Trong khi đó, bánh canh thì vô vàn.
Nếu quen với sự đặc sệt của bánh canh cua Huế, bánh canh cá lóc thì sẽ khó ăn món bánh canh nhiều nước ở vùng biển là bánh canh chả cá. Nhưng chỉ cần thử một lần người ta lại nhớ da diết cái vị ngọt thanh ấy. Nếu bây giờ có một nhà hàng nào được mở ra chỉ chuyên kinh doanh bánh canh thì có lẽ sự phong phú của thực đơn sẽ vượt xa sức tưởng tượng của chúng ta.
Tại sao lại nói bánh canh phong phú, vì chỉ món bánh canh cá thôi mà cũng đã có nhiều sự khác biệt về cách chế biến. Cái món bánh canh cá của khu vực Miền Trung gần giống như món bánh canh Trảng Bàng ở Tây Ninh. Nghĩa là chỉ có nước, bún và chất liệu chính. Thay vì cá, vùng Tây Ninh là xương heo, là giò khoanh.
Bánh canh – món ngon không mang vẻ ngoài sang trọng
Sở dĩ nói bánh canh bình dân là vì sợi bánh canh được làm chủ yếu từ bột gạo, một số nơi ở miền Nam có thêm bánh canh làm bằng bột lọc nhưng điều đáng nói là món bánh canh chỉ phổ biến từ Huế trở vào. Phía Bắc hầu như không có món ăn này. Phải chăng vì vậy mà Bánh canh không chiếm đủ “phiếu bầu” để trở thành một món ăn đại chúng, đủ đẳng cấp để vươn lên thành món ăn sang trọng như phở ??
Không hề, bánh canh sang trọng theo một cách chế biến và thưởng thức rất riêng của người nấu và người thưởng thức.
Ví như tại Huế có hai loại là bánh canh đặc biệt nổi tiếng cả trong lẫn ngoài nước là bánh canh Nam Phổ và bánh canh cá lóc. Cách làm sợi bánh cũng như nước dùng của hai loại này khác nhau nhiều. Bánh canh vùng Nam Phổ, bột gạo được đem pha với nước, sau khi khuấy đều tay bằng một thanh tre, Do phải rê bằng tay nên đòi hỏi người làm phải thật thạo mới rê được.
Người làm phải thật khéo léo mới khuấy bột khi nhấc thanh tre lên, lúc đó bột bám bên trên sẽ nương theo cây nhỏ xuống, giai đoạn này người rê phải thật đều tay sao cho bột kéo thành sợi rơi xuống nồi nước sôi bên dưới thành những sợi bánh canh tròn đều nhau.
Còn với bánh canh cá lóc thì cách làm cũng đặc biệt không kém. Bột gạo ngon xay mịn, chế nước sôi vào và nhồi bột liền tay cho đến khi nào khối bột nhuyễn mịn là được. Sau đó cán bột mỏng, dùng dao cắt thành sợi cho vào nồi nước lèo.
Còn bánh canh Bình Định cũng tương tự như bánh canh cá lóc, nước dùng của bánh canh Bình Định lại đặc sệt, giống nước súp trong các tiệm ăn người Hoa ở Sài Gòn và hương vị bánh canh Bình Định cũng khác hẳn so với các loại bánh canh khác. Bánh canh ở Bình Định có sự pha trộn gần như bánh canh cua mà người Sài Gòn hay ăn.
Nói đến bánh canh cua thì càng không thể dùng lại việc khen bộ sưu tập bánh canh ăn hoài không hết của người Việt mình. Món này đúng là tổng hòa của khá nhiều loại bánh canh. Bánh canh cua vừa có vị mặn của các đặc sản biển, vừa có những khoanh giò heo của bánh canh Trảng Bàng, vừa có hương cua đồng của Miền Nam lại đặc sệt theo phong thái bánh canh Huế. Nói tóm lại, cái gì cũng có một chút. Việc tổng hợp nhiều thể loại trên phải chăng là cách để bánh canh cua đi tìm sự khẳng định cho món bánh canh Việt nói chung.
Bởi vậy, đôi khi bánh canh cá lóc Cường đô la tôi tự hỏi phải chăng cái chất du mục của bánh canh chính là thứ “đặc sản” của riêng món ăn này. Bánh canh không tạo cho mình vẻ ngoài quyền quý, cao sang nhưng lại dung nạp cái bụi bặm, lang bạc của kẻ du mục. Điều đó không phải là điểm yếu cũng không là điểm mạnh. Mỗi món ăn là một cung cách thể hiện riêng của văn hóa và bánh canh chính là sự bình dị của văn hóa thôn quê Việt Nam mà tôi tin chẳng đâu có được.

